Phong trào giáo dân
Giáo Hội Việt Nam

Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Truyền giáo tại Việt Nam (tiếp theo)

04/02/2026 00:56(Lượt xem: 13)

Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Truyền giáo tại Việt Nam (tiếp theo)

Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Truyền giáo

tại Việt Nam (tiếp theo)

(tiếp theo bài viết cùng tựa đề ở trang https://www.phongtraogiaodan.org/news/1150) 

 

Vấn đề thờ kính tổ tiên
Một tập tục mang tính văn hóa
Nghi lễ thờ kính tổ tiên đối với người Việt Nam cũng như người Trung Hoa là một tập tục gắn liền với bản chất xã hội và văn hóa của họ. Một người Việt Nam hay Trung Hoa không thực hành nghi lễ ấy trong đời sống gia đình và xã hội của mình thì bị coi là bất hiếu, mất gốc… Vì thế, khi Tòa Thánh ra lệnh cấm không cho người Kitô hữu thờ kính tổ tiên, thì người Kitô hữu Việt Nam cũng như Trung Hoa lâm vào thế kẹt, và nhiều người chỉ vì khó khăn này mà không thể trở nên Kitô hữu được.

Hai khuynh hướng của các thừa sai
Đối với vấn đề thờ kính tổ tiên, cũng như đối với việc thích nghi và hội nhập văn hóa, các thừa sai tại Việt Nam có hai khuynh hướng:
· một của các cha dòng Tên có khuynh hướng thích nghi và hội nhập văn hóa mạnh, nên bênh vực việc thờ kính tổ tiên,
· và một của các cha thuộc hội truyền giáo Paris và một số dòng khác, ít thích nghi và hội nhập văn hóa, nên chủ trương chống lại việc thờ kính tổ tiên.
Tòa thánh chịu ảnh hưởng của khuynh hướng sau nhiều hơn [25*]
[*25] Xem phần liên quan đến vấn đề này tại Trung Hoa: bài «Việc Hội Nhập Văn Hóa Của Kitô Giáo Vào Trung Hoa» (https://phongtraogiaodan.com/p167a1069/hoi-nhap-van-hoa-tai-trung-hoa)

Khuynh hướng và phản ứng của các giáo sĩ dòng Tên
Năm 1716, Giáo Hội Đàng Trong nhận được một bản chép tay của hiến chế Ex illa die. Đức Cha Péres tỏ ra rất bỡ ngỡ khi nhận được hiến chế này. Tháng 7-1717, ngài mới nhận được hiến chế chính thức, nên công bố thư chung biểu lộ đức vâng lời đối với Giáo Hoàng.
Cha G. B. Sauna, dòng Tên, ở Hội An phản ứng mãnh liệt. Ngày 21-2-1717, cha ra một thư có 7 điều: cho phép giáo hữu được mang cờ đan triệu [26*]đi trước người chết miễn có chữ «cầu cho người chết», cho lạy trước người chết và cha mẹ, được phép thề trung thành với vua chúa, ngày đầu năm được phép dâng cúng cha mẹ. Nhưng cha Sauna dường như làm quá, vì sau khi được thư chung của Đức Cha Péres, cha vẫn cho phép giáo hữu làm như cũ.
[*26] Cờ đan triệu : cờ đỏ đi sau cờ minh tinh.
Đức Giám Mục Alexandre ở Đàng Trong xem ra cũng tán thành việc cho phép thờ kính tổ tiên. Tòa Thánh sai Đức Giám Mục La Baume đến Đàng Trong để điều tra xem xét, đi cùng cha Favre đến Hội An ngày 1-5-1739. Cha Favre không đồng ý với cha dòng Tên, về sau ngài tố cáo các cha bề trên dòng Tên ở Đàng Trong là tự cho mình ngang hàng với giám mục.

Khuynh hướng của các cha thuộc hội truyền giáo Paris
Năm 1741, Đức Cha La Baume qua đời, ủy quyền cho cha Favre tiếp tục công việc. Và ngày 27-5-1741, cha Favre công bố 9 điều, trong đó có việc cấm thờ kính tổ tiên dưới mọi hình thức [27*] Nhưng sau đó cha Favre bỏ về. Năm 1742, hiến chế Ex quo singulari sinh ra đủ mọi thứ tranh chấp. Và cha Favre còn viết sách phản đối đường lối truyền giáo của các cha dòng Tên tại Việt Nam.
[*27] 9 điều cấm là :
            - cấm không được coi tuồng hát
            - cấm các trẻ em đã được rửa tội thành sự không được rửa tội lại
            - không được cho rước lễ thường xuyên mà phải thận trọng
            - cấm dùng mỡ heo trong mùa chay
            - cấm thờ kính tổ tiên dưới mọi hình thức
            - không một thừa sai nào được phép in lịch và công bố lịch
            - tất cả mọi thừa sai, đặc biệt dòng Tên, phải mặc áo sợi bông hay vải thường địa phương
            - phải khoác áo choàng đen và hớt tóc theo kiểu Công Đồng Trentê ra lệnh
            - các thừa sai phải làm các phép bí tích đúng theo sách các phép Rôma.
 
Cái nhìn về các tôn giáo khác
Quan niệm chung của Giáo Hội thời đó
Nói chung, cái nhìn của Giáo Hội nói chung, và của các thừa sai nói riêng, vào thời đó về các tôn giáo khác rất tiêu cực và phiến diện. Nói chung, các học giả Kitô giáo Âu Châu, vì chưa có dịp tìm hiểu thật sự và sâu xa các tôn giáo Á Châu, nên luôn luôn coi các tôn giáo Á Châu như «cùng một giuộc» với các tôn giáo cấp thấp ở Âu Châu [28*]
[*28] Xem lại quan niệm của nhà thần học A. Pieris về tôn giáo vũ trụ và tôn giáo siêu vũ trụ ở phần cước chú trang 53.
Cụ thể là thánh Phanxicô Xavier, một vị thừa sai truyền giáo ở Nhật Bản đồng thời với cha Matteo Ricci tại Trung Hoa, đã sáng tác một kinh cầu cho kẻ ngoại đạo, trong đó có câu: «Những kẻ thờ lạy bụt thần ma quỉ đang sa xuống đầy rẫy hỏa ngục» [29*]
[*29] Kinh này có được dịch sang tiếng Việt, thuộc loại kinh cổ của Việt Nam.
Tư tưởng của Cha A-lịch-sơn Đắc-lộ, một người có tư tưởng rất tiến bộ và chủ trương triệt để hội nhập văn hóa, có thể được xem là điển hình cho nhận định của người Kitô hữu Âu Châu về các tôn giáo Á Châu [30*]
[*30] Cha Đắc-Lộ mà còn nghĩ như vậy, nói gì đến những thừa sai hay Kitô hữu khác.

Quan niệm của cha Đắc-Lộ về Phật giáo
Những quan niệm sai lầm về Phật giáo
Những người đã tìm hiểu ít nhiều về Phật giáo chắc không khỏi phì cười khi đọc những tư tưởng của cha Đắc-Lộ viết về Phật giáo trong cuốn «Phép Giảng Tám Ngày». Chẳng hạn có chỗ cha viết: «Bên Thiên Trúc quốc, có vua tên là Tịnh Phạn Vương, đẻ con dạ thì sáng, song kiêu ngạo lắm» (Trang 105). Không biết cha Đắc-Lộ dựa vào những sự kiện nào mà kết luận rằng Phật «kiêu ngạo lắm». Đang khi sử sách viết về thời ấu thơ của Ngài thì lại viết ngược lại [31*] Cả cuộc đời của Ngài luôn luôn đơn sơ khiêm nhượng, và do tu tập Ngài đã thành công hoàn toàn trong việc phá được «ngã chấp», là gốc rễ của mọi hình thức kiêu ngạo.
[*31] Đây là một đoạn Đại Đức Nãrada Thera viết về thời thơ ấu của Ngài : «Hoàng tử tuổi tuy còn nhỏ nhưng tâm trí đã thuần thục. Khác với những người chỉ tìm thích thú trong cuộc lễ, hoàng tử ngồi chéo hai chân lại theo lối kiết già, trầm ngâm lặng lẽ, chăm chú vào hơi thở... Giữa lúc mọi người vui vẻ thưởng thức, các cung phi bỗng sực nhớ lại hoàng tử, vội vã trở về với phận sự. Khi thấy hoàng tử ngồi trầm ngâm thiền định thì họ lấy làm ngạc nhiên, đến tâu lại tự sự cho vua. Đức Vua Tịnh Phạn hối hả đến nơi, thấy hoàng tử Tất-Đạt-Đa vẫn ngồi chỉ quán tham thiền» (NÃRADA THERA, The Buddha and his teachings, bản dịch của Phạm kim Khánh, Đức Phật và Phật pháp, Thuận Hóa & Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh xuất bản, 1994 (trang 32).
Cũng trong trang đó, cha viết: «Đẻ được một con gái đoạn thì đi ở trên rừng một mình, dẫu vợ cãi mà chẳng cho, vì mình đã quen làm việc dối như pháp môn phù thủy…». Rõ ràng là cha không biết rõ lịch sử Đức Phật. Theo sử sách, năm 29 tuổi, Phật cùng với vợ là Công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara) sinh được một cậu con trai, mà vua Tịnh Phạn đặt tên là La-hầu-la (Rahula, có nghĩa là một trở ngại). Không biết cha căn cứ vào đâu mà viết: «dẫu vợ cãi mà chẳng cho» [32*] và «mình đã quen làm việc dối như pháp môn phù thủy». Câu sau là một lời nói xúc phạm rất mạnh mà người Phật tử nào đọc đến cũng phải trạnh lòng.
[*32] Lịch sử chỉ nói tới việc Phật từ giã vợ con như sau : «Ngài truyền lệnh cho Xa-Nặc, người đánh xe được Ngài yêu chuộng, thắng yên ngựa và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến... Với một tâm hồn thanh thoát, thái tử Tất-Đạt-Đa ra đi giữa đêm khua, để lại sau lưng Ngài tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quí, vợ đẹp con thơ và cả một tương lai rực rỡ huy hoàng» (Sđd, trang 26).
Tiếp theo, Cha còn viết: «Mà trong nhiều quỉ dạy nó, thì có hai quỉ tên là Alala và Calala quen làm thày dạy nó liên, mà nó thì ngồi giữa hai thày quỉ ấy, mà dạy nó đầu hết chớ tin có Chúa trời» (Trang 105-106). Theo các sách lịch sử, thì sau khi đã thất vọng vì không tìm được chân lý tối thượng nơi các vị thày mà Phật thụ huấn, Phật bèn tự mình đi tìm chân lý, và việc Ngài giác ngộ hay thành đạo là hoàn toàn do tự mình quán chiếu mọi sự với trí tuệ thanh tịnh sáng suốt, chứ không ai dạy Ngài cả. Quỉ ma chỉ là kẻ hại Ngài: trong 49 ngày nhập định trước khi Ngài thành đạo, Ngài đã phải chiến đấu quyết liệt với giặc Thiên Ma do Ma Vương Ba Tuần chỉ huy. Những điều cha Đắc-Lộ nói trong câu này không biết cha lấy từ đâu ra [33*] Tôi không nghĩ là cha bịa đặt ra hay cố ý xuyên tạc, nhưng có lẽ những điều cha học được hay nghe được về Phật giáo là hoàn toàn sai lầm.
[*33] Alala và Kalala trong câu này thật ra không có trong sách sử Phật giáo. Sách sử Phật giáo có nói tới Alarama Kalama (có âm tương tự như tên hai con quỉ mà cha Đắc-Lộ nói tới), là vị đạo sĩ đầu tiên mà Phật gặp trên con đường tìm kiếm chân lý. Ngài tu và thụ huấn ông này một thời gian, nhưng ông này không giúp Ngài thấy được chân lý tối thượng, nên Ngài bỏ ông mà đi tìm một vị thày khác. Các vị thày sau cũng làm cho Ngài thất vọng. Cuối cùng, Ngài nhận thấy chẳng ai có thể giúp mình giác ngộ được chân lý tối thượng, mà chính mình phải đích thân tìm nó.

Đồng hóa Phật giáo với tôn thờ ngẫu tượng
Cha đã đồng hóa Phật giáo với việc tôn thờ ngẫu tượng [34*], Cha thường dùng chữ «thờ bụt thần ma quỉ», nghĩa là đồng hóa Bụt hay Phật với ma quỉ. Chẳng hạn như câu: «Nó dạy dân thờ bụt, và lấy mình, Thích Ca, làm cội rễ các bụt, như thể mình là kẻ làm nên trời đất» (Trang 106). Tư tưởng này hoàn toàn xa lạ với người Phật tử. Cả đời Đức Phật, chưa bao giờ Ngài dạy người khác thờ một Đấng nào, càng không dạy người ta thờ mình. Ngài chỉ cho mình là một trong hằng hà sa số các vị Phật, vì thế, có bao giờ Ngài lại có tư tưởng «lấy mình làm cội rễ các bụt, như thể mình là kẻ làm nên trời đất»!
[*34] Những ai nghiên cứu về các tôn giáo lớn ở Á Châu, đều thấy rằng ngoại trừ hình thức sơ khởi của Ấn giáo (tôn giáo Vệ-Đà và Brahmana thờ các thần), thì không một tôn giáo lớn nào chủ trương thờ ngẫu tượng. Tôn giáo nào cũng đều nói tới một «Thực Tại Tối Hậu» mà người ta phải giác ngộ nhiều hơn là thờ phượng. Đương nhiên không tôn giáo nào tránh khỏi tình trạng có những tín đồ thuộc giới bình dân đã thần thánh hóa các giáo chủ đến mức tôn thờ và coi các ngài như những vị thần có thể thi ân giáng phúc.

Quan niệm đó giúp các giáo sĩ hăng say truyền giáo
Phải nói rằng sự hiểu biết của các thừa sai thời đó về các tôn giáo Á Châu hết sức thô thiển và lệch lạc, một phần do não trạng hãnh tiến (triomphalisme) đầy thiên kiến của người Kitô hữu Âu Châu, một phần do không tìm hiểu đến nơi đến chôâùn các tôn giáo Á Châu [35*] Nhưng có lẽ cũng chính nhờ quan niệm sai lạc như thế mà các vị giáo sĩ đó đã sẵn sàng hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả kể cả cái chết, thậm chí chết thảm thiết, chỉ vì họ muốn cứu những dân tộc Á Châu khỏi sa hỏa ngục [36*] Một cách chủ quan, đó là một sự hy sinh rất cao cả phát xuất từ tình yêu. Thiết tưởng chúng ta không nên xét đoán một cách quá hẹp hòi và thiển cận đến nỗi lên án họ.
[*35] Họ tưởng rằng các tôn giáo Á Châu cũng chỉ giống như các tôn giáo nhỏ ở Âu Châu - kém cỏi về lý thuyết cũng như thực hành, không có nền tảng triết lý và khả năng giáo hóa - đã tự tan biến trước «thần lực» vô song của Kitô giáo. Chỉ qua thế kỷ 20, khi tìm hiểu sâu xa và đúng đắn các tôn giáo Á Châu, cái nhìn của các Kitô hữu Âu Châu đối với các tôn giáo Á Châu mới bắt đầu thay đổi : các tôn giáo ấy không tầm thường và kém cỏi như người ta vẫn nghĩ. Và nhất là triết lý của chúng không cùng xây dựng trên một nhận thức luận đơn diện và nhị nguyên như triết lý của Kitô giáo. Do đó, những vấn đề đặt ra và cách thức giải đáp những vấn đề ấy trong môn hộ giáo xưa của Kitô giáo hầu như không giải đáp thỏa mãn những nhà tư tưởng thuộc các tôn giáo Á Châu muốn tìm hiểu về Kitô giáo.
[*36] Quan niệm của các thừa sai về các tôn giáo khác được biểu lộ qua câu chuyện của thánh Pha-xi-cô Xa-vi-e : Những người Nhật Bản mới theo đạo hỏi ngài về số phận ông bà tổ tiên họ, ngài trả lời không nghĩ ngợi : «Họ sa hỏa ngục tất cả!».
 
Chữ viết
Chữ Nôm
Trước khi có chữ quốc ngữ do cha Đắc-Lộ, các thừa sai đã học chữ Nôm và đã dùng chữ Nôm để viết những bài giảng, sáng tác các lời kinh giúp bổn đạo cầu nguyện… Các Kitô hữu Việt Nam đã dùng chữ Nôm để làm thơ đạo, để viết những cảm nghĩ hay suy tư của của mình về Chúa, về giáo lý… Từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, có biết bao nhiêu sách đạo viết do người Kitô hữu viết ra bằng chữ Nôm: sách kinh, sách bổn, sách ngắm, sách ca vè, thơ đạo, sách luật, sách thần học, sách bài giảng, sách quảng diễn giáo lý, sách truyện các thánh, v.v… Trong số các sách chữ Nôm đó, có nhiều sách của Gaspar d’Amaral, Antoine Barbosa, nhất là Giêrônimô Majorica và của các thầy giảng nhiệt thành.
Từ xưa đến lúc bấy giờ, chưa bao giờ chữ Nôm lại được sử dụng nhiều như thế [37*] Vì thế, trong ba thế kỷ vừa qua, Giáo Hội Việt Nam có biết bao nhiêu tác phẩm bằng chữ Nôm mà thời nay ít người đọc được và lại càng ít người có khả năng hay thì giờ dịch ra. Đó cũng là một hình thức hội nhập của sứ điệp Kitô giáo vào văn hóa Việt Nam thời trước!
[*37] Trước đó, muốn viết gì thì các cụ nhà ta thường dùng chữ Nho cho có vẻ trí thức, chữ Nôm thường bị các cụ coi thường. Thì các cụ vẫn thường nói : «Nôm na là cha mách qué» mà !

Chữ quốc ngữ
Một thành quả của công cuộc truyền giáo
Một trong những thành quả lớn của công cuộc truyền giáo và hội nhập văn hóa tại Việt Nam là sự thành hình chữ quốc ngữ. Công lớn nhất trong việc hình thành chữ Quốc Ngữ là của cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ. Thứ chữ mới này do cha sáng chế ra bằng cách dùng mẫu tự Latinh để phiên âm tiếng Việt.
Mục đích của cha khi sáng chế ra cách phiên âm này là để ghi lại cách phát âm tiếng Việt cho chính xác để dễ học và dễ nhớ, vì chữ của tiếng Việt lúc đó là chữ Nôm cũng tương tự như chữ Hán, không thể cứ nhìn vào mà phát âm được. Chắc chắn mỗi vị giáo sĩ Âu Châu học tiếng Việt cũng đều phải tìm cách ghi lại cách phát âm của từng chữ theo một cách nào đó.
Thứ chữ mà cha sáng chế ra để tạm dùng ấy sau này đã trở thành chữ chính thức của người Việt, thay thế cho chữ Nôm do Hàn Thuyên sáng chế ra nhiều thế kỷ trước đó [38*] Cách phiên âm của cha - cụ thể trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày và cuốn tự điển Việt-Bồ-La - tuy khá tinh vi nhưng chưa có tính ổn định và chưa đủ khả năng phiên âm hết mọi âm của tiếng Việt. Về sau, cách phiên âm này đã được cha Gaspar d’Amiral [39*]và một số Kitô hữu Việt Nam sửa lại cho hoàn chỉnh.
[*38] Chữ Nôm được Hồ Quí Ly và Nguyễn Huệ tích cực ủng hộ và phổ biến, nhưng nói chung, bị các nhà nho coi thường.
[*39] Gaspar d’Amiral : một thừa sai đồng thời với cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ, một thiên tài về ngôn ngữ rất chú trọng tới chữ quốc ngữ. Cha Amiral nói tiếng Việt, viết chữ quốc ngữ nhiều và giỏi hơn cha Đắc-Lộ, mặc dù cha ở Việt Nam chỉ có 28 tháng, đang khi cha Đắc-Lộ ở 57 tháng.

Những tác phẩm quốc ngữ đầu tiên
Cuốn «Phép Giảng Tám Ngày» và cuốn Từ điển Việt-Bồ-La [40*] do cha biên soạn là những cuốn sách đầu tiên tại Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ [41*] mà cha đã xuất bản ở Rôma vào năm 1651. Đó là hai tác phẩm quan trọng và đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Cách đặt câu tiếng Việt trong cuốn «Phép Giảng Tám Ngày» đôi khi chưa được Việt lắm, điều này dễ hiểu vì tác giả là một người Âu Châu tuy sử dụng tiếng Việt đã được 25 năm nhưng chưa hoàn toàn thấm nhuần được pháp cú và văn pháp tiếng Việt, và cũng vì cách lập luận của người Việt vốn khác xa với cách của người Âu Châu. Ngày nay, người Việt Nam coi cha Đắc-Lộ là cha đẻ của chữ quốc ngữ, và mang ơn cha rất nhiều vì sự tiện lợi rất lớn mà thứ chữ này đem lại so với chữ Nôm trước đây.
[*40] «Tự điển Việt-Bồ-Latinh» (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum et Latinum), dày 500 trang.
[*41] Tựa đầy đủ của sách là «Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chịu phép rửa tội mà beào đạo Đức Chúa Blời», dày 324 trang; mỗi trang đều có cả tiếng Latinh và tiếng Việt. Hai tác phẩm chữ quốc ngữ này đã được Bộ Truyền giáo ấn hành năm 1651 tại Roma theo yêu cầu của cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ sau khi cha bị trục xuất khỏi Việt Nam.

Đặc biệt, tới thế kỷ 19, các Kitô hữu Việt Nam đã có Thánh Kinh bằng chữ quốc ngữ, do cố Schicklin (tiếng Việt gọi là cố Chính Linh) dịch, với bản latinh ở bên để đối chiếu.

Nguyễn Chính Kết 
 
______________________________________________________

Phụ thêm:

Những bài liên quan đến vấn đề Hội nhập Văn hóa
trong công cuộc truyền giáo (đã đăng trước đây): 

Hội nhập văn hóa theo chiều dọc
https://phongtraogiaodan.com/p167a966/hoi-nhap-van-hoa-theo-chieu-doc 

Nhu cầu thích ứng trong công cuộc Phúc Âm hóa các dân tộc của Giáo Hội
https://phongtraogiaodan.com/p167a985/nhu-cau-thich-ung-trong-cong-cuoc-phuc-am-hoa-cac-dan-toc 

Công Cuộc Phúc Âm Hóa Tại Châu Á Trong Hai Thiên Niên Kỷ 19 & 20
https://phongtraogiaodan.com/p167a993/cong-cuoc-phuc-am-hoa-tai-chau-a-trong-hai-thien-nien-ky-19-20 

Vấn đề Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Phúc Âm hóa
https://phongtraogiaodan.com/p167a1005/van-de-hoi-nhap-van-hoa-trong-cong-cuoc-phuc-am-hoa 

Nỗ Lực Hội Nhập Văn Hóa của Kitô giáo trên Thế Giới
https://phongtraogiaodan.com/p167a1031/no-luc-hoi-nhap-van-hoa-cua-kito-giao-tren-the-gioi 

Đạo hiếu hay Thần học Tam Phụ
https://phongtraogiaodan.com/p167a1041/dao-hieu-hay-than-hoc-tam-phu 

Hội Nhập Văn Hóa Sứ Điệp Kitô Giáo Vào Thế Giới Tây Phương
https://phongtraogiaodan.com/p167a1045/hoi-nhap-van-hoa-su-diep-kito-giao-vao-the-gioi-tay-phuong 

Việc Hội Nhập Văn Hóa Của Kitô Giáo Vào Trung Hoa
https://phongtraogiaodan.com/p167a1069/hoi-nhap-van-hoa-tai-trung-hoa 

 

Từ khóa liên quan:
Bài tin liên quan
Chia sẻ bài viết

Tác giả


Nguyên Chính Kết

Phạm Hồng Lam

BBT

Phạm Hương Sơn

Phạm Thiên Phước

Thông tin


Phong Trào Giáo dân Việt Nam Hải Ngoại C/o Do Nhu Dien
10687 Weatherhill Court. San Diego, CA 92131. USA
ptgdvn@gmail.com
www.phongtraogiaodan.org
www.phongtraogiaodan.com

Copyright © 2024 team_vvpb